[Truyện dịch] Haruki Murakami – Trăng tròn và Nhật thực, trên những con ngựa đang hấp hối trong chuồng

Trăng tròn và Nhật thực,

trên những con ngựa

đang hấp hối trong chuồng

 

Tác giả: Haruki Murakami

Người dịch: Lục Hương

 

Lời người dịch: Đây là một truyện ngắn tôi dịch từ cách đây vài năm, khi còn học đại học. Văn phong của Haruki Murakami rất mượt mà, hấp dẫn. Những chuyện bình thường qua lời kể của ông bỗng trở nên sống động. Haruki Murakami vẫn là tác giả đương đại mà tôi thích nhất. Tiếc là chưa có dịp nào được dịch truyện của ông để xuất bản, mặc dù tôi đã dịch để xuất bản một quyển của một Murakami khác, Ryu Murakami, “Màu xanh trong suốt.” Quyển này khi in bị cắt đi đến một nửa do có nhiều nội dung nhạy cảm, thật đáng tiếc. Có lẽ một lúc nào đó tôi sẽ post lại quyển này lên blog, bản đầy đủ.

***

Có thể chăng, cuối cùng con người có thể đạt được tới mức độ hiểu thấu hoàn toàn một người khác?

Chúng ta có thể bỏ ra biết bao thời gian và công sức trong hàng loạt nỗ lực để hiểu một con người, nhưng cuối cùng, chúng ta có thể chạm đến gần bản chất của người đó tới mức nào? Chúng ta tự thuyết phục mình rằng mình biết rõ về người đó, nhưng chúng ta có thực sự biết điều gì là quan trọng về người đó hay không?

Tôi bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc về những điều như vậy một tuần sau khi tôi nghỉ việc ở công ty luật.

Chưa bao giờ cho tới lúc này – chưa bao giờ trong suốt quãng đời trước đó của tôi – mà tôi phải vật lộn với những câu hỏi như vậy. Và tại sao lại không? Có lẽ bởi vì tôi đã quá bận rộn với việc kiếm sống. Tôi chỉ đơn giản là quá bận rộn để nghĩ tới bản thân mình.

Một vài điều tầm thường đã khiến tôi bắt đầu suy nghĩ, giống như hầu hết những thứ quan trọng nhất trên thế giới này đều có sự khởi đầu bình thường. Một buổi sáng sau khi Kumiko vội vã ăn bữa sáng rồi tới chỗ làm, tôi cho quần áo bẩn vào máy giặt, dọn giường, rửa bát đĩa, và hút bụi. Với con mèo bên cạnh, tôi ngồi bên hiên nhà, xem xét các mẩu quảng cáo tìm việc làm và các thông báo hàng giảm giá. Vào buổi trưa tôi mua thức ăn cho bữa tối, ở một quầy hàng giảm giá tôi mua chất tẩy rửa, giấy ăn, và giấy vệ sinh. Về nhà, tôi chuẩn bị bữa tối và nằm dài trên sofa đọc sách, chờ Kumiko về nhà ăn cơm.

Mới thất nghiệp, tôi thấy kiểu sống như vậy rất là tươi mới. Không cần phải đi tới chỗ làm trên những tàu điện ngầm đông nghịt, không còn phải họp hành với những người mà tôi không muốn gặp. Và tuyệt vời nhất, tôi có thể đọc bất kì cuốn sách nào tôi muốn, bất cứ lúc nào tôi muốn. Tôi không biết lối sống thư giãn này sẽ còn tiếp tục trong bao lâu, nhưng vào thời điểm này, ít nhất là sau một tuần, tôi vẫn đang rất sung sướng được hưởng thụ nó, và tôi cố gắng không nghĩ tới tương lai. Đây là kì nghỉ tuyệt diệu trong đời tôi. Sẽ đến một lúc nào đó nó kết thúc, nhưng cho tới lúc nó xảy ra thì tôi quyết định vẫn cứ tận hưởng thời gian sung sướng này đã.

Buổi tối hôm đó, dù vậy, tôi không thể nào đắm mình hoàn toàn trong niềm vui thú của việc đọc sách, bởi vì Kumiko ở lại chỗ làm muộn chưa về nhà. Nàng không bao giờ về nhà muộn hơn sáu rưỡi tối, và nếu nàng nghĩ sẽ phải về muộn chừng mười phút, nàng sẽ báo cho tôi biết. Nàng luôn như vậy: rất là chu đáo. Nhưng hôm đó là một ngoại lệ. Nàng vẫn chưa về nhà mặc dù đã quá bảy giờ tối, và cũng không gọi về. Thịt và rau đã sẵn sàng để tôi có thể nấu nướng ngay khi nàng về. Trong đầu tôi không phải đang nghĩ tới yến tiệc gì đâu: Tôi sẽ xào thịt bò thái miếng mỏng, hành tây, ớt chuông màu xanh, và giá với một ít muối, hạt tiêu, xì dầu, và một ít bia – công thức nấu ăn của tôi những ngày còn độc thân. Cơm đã chín, soup miso vẫn còn ấm, và rau củ đã cắt lát xếp thành chồng trong một cái đĩa to, sẵn sàng cho việc nấu nướng. Chỉ còn thiếu Kumiko. Tôi đã đói tới mức nghĩ đến việc nấu riêng phần của mình và ăn trước, nhưng tôi không sẵn sàng làm việc đó.

Nó nghe có vẻ không hợp lý.

Tôi ngồi bên bàn bếp, hớp một ngụm bia và nhấm nháp một ít bánh quy hơi ngấm nước soda mà tôi tìm thấy ở tít sâu trong tủ đựng đồ ăn. Tôi ngồi nhìn kim đồng hồ chỉ đến và chậm rãi lướt qua vị trí bảy giờ ba mươi.

Sau chín giờ tối nàng mới về. Nàng trông có vẻ mệt mỏi. Mắt nàng hơi đỏ: dấu hiệu không tốt. Điều tồi tệ luôn xảy ra khi mắt nàng đỏ lên.

OK, tôi tự bảo mình, bình tĩnh, cứ coi như mọi việc bình thường không có điều gì xảy ra. Đừng có quá kích động.

“Em xin lỗi,” Kumiko nói. “Hôm nay công việc bê trễ quá. Em đã nghĩ đến việc gọi cho anh, nhưng công việc nhiều quá.”

“Không sao, mọi việc ổn mà, em đừng bận tâm,” tôi nói bình thường hết mức có thể. Và thực tế, tôi cũng không cảm thấy bực tức gì đâu. Tôi đã có kinh nghiệm về việc này nhiều lần rồi. Đi làm là một việc vất vả, không ngọt ngào và nhẹ nhàng như là hái những bông hoa hồng đẹp nhất trong vườn cho bà ngoại đang bị ốm và ngồi bên bà cả ngày, chỉ cách nhà bạn có hai dãy phố. Thỉnh thoảng bạn phải làm những việc không lấy gì làm vui thú với những con người khó chịu, và không có cơ hội gọi điện về nhà. Chỉ cần ba mươi giây để nói “Tối nay em về muộn,” và điện thoại có ở khắp nơi, nhưng bạn chẳng có thời gian làm điều đó.

Tôi bắt đầu nấu ăn: bật bếp ga, đổ dầu vào chảo. Kumiko lấy chai bia trong tủ lạnh và cốc ở tủ chén, liếc nhanh qua đồ ăn mà tôi chuẩn bị nấu, ngồi bên bàn bếp không nói một lời. Nhìn vẻ mặt nàng, nàng có vẻ không thích bia lắm.

“Lẽ ra anh nên ăn trước đừng đợi em,” nàng nói.

“Không sao mà. Anh không đói lắm.”

Khi tôi xào thịt và rau, Kumiko đi rửa mặt. Tôi có thể nghe thấy tiếng nàng rửa mặt và đánh răng. Một lúc sau, nàng đi ra khỏi phòng tắm, cầm thứ gì đó. Đó là giấy vệ sinh và giấy ăn mà tôi đã mua ở siêu thị.

“Sao anh lại mua những thứ này?” nàng hỏi, giọng nghe có vẻ căng thẳng.

Tay cầm chảo, tôi nhìn nàng. Rồi tôi nhìn hộp giấy ăn và gói giấy vệ sinh. Tôi không hiểu nàng muốn nói gì.

“Ý em là sao? Chỉ là giấy ăn và giấy vệ sinh thôi mà. Chúng ta cần mấy thứ đó. Nhà cũng chưa hết hẳn, nhưng chúng cũng không mục nát nếu để dự trữ một thời gian đâu.”

“Không, tất nhiên là không. Nhưng tại sao anh lại cứ phải mua giấy ăn màu xanh và giấy vệ sinh in hoa?”

“Anh không hiểu,” tôi nói, cố gắng kiềm chế bản thân. “Đồ giảm giá mà. Giấy ăn màu xanh cũng đâu làm mũi em chuyển màu xanh đâu. Có chuyện gì to tát đâu nhỉ?”

“Sao lại không phải chuyện to tát chứ. Em ghét giấy ăn màu xanh và giấy vệ sinh in hoa. Anh không biết hay sao?”

“Không, anh không biết,” tôi đáp. “Sao em lại ghét?”

“Làm sao mà em biết được tại sao em ghét chứ? Em chỉ ghét thôi. Anh ghét vỏ bao điện thoại và túi sưởi có hoa văn trang trí, và quần jeans cạp trễ với đinh tán, và móng tay em sửa sang tại tiệm. Anh cũng chẳng thế nói là tại sao. Nó chỉ là vấn đề về sở thích mà thôi.”

Trên thực tế, tôi có thể đưa ra lý do cho tất cả những điều đó, nhưng tất nhiên là tôi không nói. “Được,” tôi nói. “Đó chỉ là vấn đề về sở thích. Nhưng em có thể nói cho anh biết là trong sáu năm chúng ta lấy nhau em chưa lần nào mua giấy ăn màu xanh hoặc là giấy vệ sinh có hoa văn hay không?”

“Chưa bao giờ. Chưa một lần nào.”

“Thật sao?”

“Đúng vậy. Em chỉ mua giấy ăn màu trắng, vàng hoặc hồng thôi. Và em tuyệt đối không bao giờ mua giấy vệ sinh có hoa văn cả. Em thật quá ngạc nhiên khi mà anh có thể sống cùng em lâu như vậy mà vẫn không để ý tới điều đó.”

Tôi cũng ngạc nhiên lắm chứ, khi nhận ra rằng trong suốt sáu năm trời tôi chưa bao giờ sử dụng giấy ăn màu xanh hoặc giấy vệ sinh có hoa văn.

“À tiện thể em cũng nói luôn,” nàng tiếp tục. “Em ghét cay ghét đắng thịt bò xào chung với ớt chuông màu xanh. Anh có biết điều này không?”

“Không, anh chẳng biết,” tôi nói.

“Phải, đúng là như vậy đấy. Và đừng có hỏi em tại sao. Em chỉ không thể chịu được mùi của hai thứ đó nấu chung với nhau trong một cái chảo.”

“Ý em là trong sáu năm qua em chưa từng nấu thịt bò chung với ớt chuông màu xanh hay sao?”Nàng lắc đầu. “Em sẽ ăn ớt chuông màu xanh trong món salad. Em xào thịt bò với hành tây. Nhưng em chưa từng nấu thịt bò cùng với ớt chuông màu xanh bao giờ.”
Tôi thở dài.“Anh có bao giờ nghĩ như vậy thật là kỳ quặc không?” nàng hỏi.“Thấy kỳ quặc à? Anh thậm chí còn không để ý tới,” tôi nói, cố gắng tập trung nhớ lại xem đã bao giờ kể từ khi lấy vợ tôi đã ăn thứ đồ xào nấu gì mà có cả thịt bò và ớt chuông màu xanh chưa.

Tất nhiên, tôi không thể nào mà nhớ ra được.

“Anh sống với em trong suốt thời gian qua,” nàng nói, “nhưng anh hầu như chẳng thèm để ý tới em. Thứ duy nhất mà anh nghĩ tới là bản thân anh thôi.”
“Chờ chút,” tôi nói, tắt bếp ga và để cái chảo lên bàn bếp. “Đừng có đẩy mọi chuyện đi quá xa như vậy chứ. Có lẽ em đúng. Có thể anh không để tâm đúng mức đến những thứ như giấy ăn, giấy vệ sinh, thịt bò và ớt chuông màu xanh. Nhưng điều đó không có nghĩa là anh không thèm quan tâm đến em. Anh chẳng quan tâm tới giấy ăn màu gì hết. OK, màu đen thì hơi có vấn đề chút, nhưng trắng hay xanh – chả sao hết. Với thịt bò và ớt chuông màu xanh cũng thế. Nấu chung với nhau hay không – ai mà thèm quan tâm chứ? Việc xào thịt bò chung với ớt chuông màu xanh có thể biến mất trên cõi đời này và với anh chả làm sao hết. Nó cũng chẳng ảnh hưởng gì tới em, tới bản chất con người em, những điều làm cho Kumiko đúng là Kumiko. Anh nói có gì sai không?”

Thay vì trả lời tôi, nàng uống hai hớp to cạn chai bia và nhìn chằm chằm vào cái chai không.

Tôi đổ chỗ thức ăn trong chảo vào thùng rác. Thế là quá đủ đối với thịt bò và ớt chuông màu xanh và hành tây và giá. Một phút trước còn là thức ăn, sau đã là rác rưởi. Tôi mở chai bia và uống trực tiếp từ chai.

“Sao anh lại làm thế?” nàng hỏi.

“Tại em ghét nó mà.”

“Thì anh vẫn ăn được mà.”

“Anh tự nhiên lại không thích ăn thịt bò chung với ớt chuông màu xanh nữa.”

Nàng nhún vai. “Anh làm sao thoải mái thì làm.”

Nàng đặt tay lên bàn và giấu mặt sau hai cánh tay. Nàng làm như vậy một lúc. Tôi không biết nàng đang khóc hay ngủ nữa. Tôi nhìn cái chảo trống không trên bàn bếp, nhìn Kumiko, và uống cạn chai bia. Điên thật. Ai lại đi cãi cọ về giấy vệ sinh và ớt chuông màu xanh kia chứ?

Nhưng tôi đi tới đặt tay lên vai nàng. “Được rồi,” tôi nói. “Bây giờ anh biết rồi. Anh sẽ không bao giờ mua giấy ăn màu xanh hay giấy vệ sinh in hoa nữa. Anh hứa đấy. Ngày mai anh sẽ mang những thứ đã mua đến siêu thị để đổi lại. Nếu họ không cho đổi, anh sẽ đốt nó trong sân rồi ném tro xuống biển. Và không xào nấu thịt bò chung với ớt chuông màu xanh nữa. Không bao giờ. Mùi của chúng sẽ bay nhanh thôi, và chúng ta sẽ không bao giờ phải suy nghĩ về những thứ lặt vặt như vậy nữa. OK?”

Nhưng nàng vẫn chẳng nói gì cả. Tôi muốn ra ngoài đi dạo chừng một tiếng đồng hồ và hi vọng thấy nàng vui lên một chút khi tôi quay lại, nhưng tôi biết không có chuyện ấy xảy ra. Tôi phải tự mình giải quyết chuyện này.

“Nhìn xem, em đang mệt nhỉ,” tôi nói. “Vậy nghỉ ngơi một lát rồi chúng mình đi ăn pizza nhé. Lần cuối cùng ta ăn pizza là lúc nào nhỉ? Cá cơm và hành tây. Chúng ta đã chia nhau ăn chung một chiếc. Mình cũng chẳng chết nếu mà ăn hết ngay một lúc đâu.”

Cũng chẳng có tác dụng. Nàng vẫn giấu mặt sau cánh tay. Tôi không biết nói gì nữa. Tôi ngồi xuống và nhìn nàng qua chiếc bàn. Một tai nàng lấp ló sau mái tóc đen cắt ngắn. Nàng đeo chiếc hoa tai mà tôi chưa từng thấy bao giờ, một chiếc hoa tai vàng hình con cá. Nàng có thể mua những thứ như vậy ở đâu nhỉ? Tôi muốn hút thuốc. Tôi tưởng tượng mình lấy thuốc lá và bật lửa trong túi quần, đặt một điếu thuốc đầu lọc lên môi, và châm lửa. Tôi hít vào phổi đầy khói thuốc. Mùi thịt bò và rau củ nặng mùi khiến bụng tôi cồn cào. Tôi đang rất đói.

Mắt tôi bắt gặp tờ lịch treo trên tường. Trên lịch có ghi từng giai đoạn của mặt trăng. Sắp đến ngày trăng tròn. Tất nhiên: đây đang là kỳ kinh nguyệt của Kumiko.

Chỉ sau khi trở thành người đàn ông có gia đình thì tôi mới hoàn toàn nhận thức được rằng tôi là một cư dân của trái đất, hành tinh thứ ba trong hệ mặt trời. Tôi sống trên trái đất, trái đất quay quanh mặt trời, và mặt trăng lại quay quanh trái đất. Có thích hay không, thì điều này vẫn sẽ xảy ra vĩnh viễn (hoặc có thể coi là vĩnh viễn nếu so sánh với cuộc đời tôi.) Điều xui khiến tôi nhìn nhận sự việc theo cách này là do sự chính xác tuyệt đối của chu kì kinh nguyệt hai mươi chín ngày của vợ tôi. Nó tương ứng một cách hoàn hảo với việc khi tròn khi khuyết của mặt trăng. Chu kì của nàng bao giờ cũng khó khăn. Nàng sẽ trở nên bồn chồn nóng nảy – vài ngày trước khi bắt đầu chu kì kinh nguyệt. Vì vậy chu kì của nàng cũng thành chu kì của tôi. Tôi phải cẩn thận không gây ra phiền toái không cần thiết vào thời điểm này trong tháng. Trước khi chúng tôi lấy nhau, tôi hầu như không nhận thấy các giai đoạn của mặt trăng. Tôi có thể nhìn ngắm mặt trăng trên bầu trời, nhưng hình dáng của nó tại một thời điểm nhất định không liên quan gì đến tôi. Giờ đây hình dạng của mặt trăng là thứ mà tôi luôn phải ghi nhớ trong đầu.Tôi đã qua lại với một vài phụ nữ trước Kumiko, và tất nhiên ai cũng có chu kì của mình. Một vài người thì khó nhọc, một vài người thì dễ dàng, một vài người kết thúc trong ba ngày, những người khác phải mất một tuần, một vài người đều đặn, những người khác có khi bị chậm cả mười ngày và đổ lỗi cho tôi; một vài người có tâm trạng tồi tệ, những người khác hầu như không bị ảnh hưởng. Nhưng cho tới khi tôi cưới Kumiko, tôi chưa bao giờ sống chung với một người phụ nữ nào. Cho tới lúc đó, chu kì của tự nhiên có nghĩa là sự thay đổi của bốn mùa. Mùa đông tôi mặc áo khoác, mùa hè tôi đi sandal. Với hôn nhân tôi không chỉ có thêm một người sống chung mà còn có thêm một khái niệm mới về chu kì: các giai đoạn của mặt trăng. Chỉ có một lần nàng không có chu kì kinh nguyệt trong vài tháng, đó là lúc nàng mang thai.“Em xin lỗi, “ nàng nói, ngẩng mặt lên. “Em không có ý trút giận lên anh. Em mệt, và em đang có tâm trạng tồi tệ.”“Không sao,” tôi nói. “Em đừng bận tâm. Em nên trút giận vào ai đó khi em mệt mỏi. Nó sẽ làm em cảm thấy dễ chịu hơn.”

Kumiko chầm chậm hít một hơi dài, giữ nó trong phổi một lúc, rồi thở hắt ra.

“Thế còn anh thì sao?” nàng hỏi.

“Anh thì có vấn đề gì chứ?”

“Anh không trút giận lên người khác khi anh mệt mỏi. Tại sao lại như vậy?”

Tôi lắc đầu. “Anh không bao giờ để ý,” tôi nói. “Hài hước thật.”

“Có thể anh có chiếc giếng sâu trong lòng, và anh hét lên với nó, “Nhà vua có đôi tai lừa!” và mọi việc sẽ ổn.”

Tôi nghĩ về điều đó một lúc. “Có lẽ là như vậy,” tôi nói.

Kumiko lại nhìn chai bia rỗng. Nàng nhìn chằm chằm vào nhãn, rồi cổ chai, và nàng xoay xoay cổ chai trong tay.

“Em đang đến chu kì,” nàng nói. “Em nghĩ đó là lý do tại sao em lại có tâm trạng tồi tệ như vậy.”

“Anh biết,” tôi nói. “Em đừng bận tâm. Em không phải là người duy nhất. Hàng trăm con ngựa chết khi trăng tròn mà.”

Nàng rời tay khỏi cái chai, há hốc miệng, và nhìn tôi.

“Thế mọi việc xảy ra bất ngờ hay sao?”

“Hôm kia anh đọc trên báo. Anh định kể cho em nghe, nhưng lại quên mất. Đó là bài phỏng vấn với vài bác sĩ thú y. Rõ ràng là lũ ngựa bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các giai đoạn của mặt trăng – cả về thể xác và tinh thần. Sóng não của chúng trở nên kích động mỗi độ trăng tròn, và chúng bắt đầu bị đủ các loại bệnh tật. Và, trong đêm trăng tròn, rất nhiều con ngựa bị ốm, và nhiều con bị chết. Không ai biết rõ tại sao điều này lại xảy ra, nhưng thống kê cho thấy rằng có chuyện như vậy. Các bác sĩ thú y chữa bệnh cho ngựa không bao giờ có thời gian để ngủ trong những đêm trăng tròn, họ rất bận rộn.”

“Thú vị đấy,” Kumiko nói.

“Tuy vậy, nhật thực còn tồi tệ hơn nhiều. Đúng là bi kịch cho lũ ngựa. Em không thể tưởng tượng được có bao nhiêu con ngựa bị chết trong ngày nhật thực toàn phần đâu. Dù sao thì, tất cả những gì anh muốn nói là ngay lúc này, trên toàn thế giới lũ ngựa đang hấp hối. So sánh với điều đó, chẳng có gì là to tát nếu em trút giận vào ai đó. Vì vậy em đừng bận tâm. Hãy nghĩ tới lũ ngựa đang hấp hối. Hãy nghĩ tới chúng nằm trên đống rơm ở một chuồng ngựa nào đó dưới mặt trăng tròn, sùi bọt mép, thở hổn hển trong cơn đau đớn.”

Nàng dường như đang nghĩ về lũ ngựa nằm hấp hối trong chuồng.

“Phải, em phải thừa nhận,” nàng nói có vẻ cam chịu, “anh có thể bán cho bất kì ai thứ gì.”

“Được rồi,” tôi nói. “Em đi thay quần áo đi rồi chúng ta đi ăn pizza.”

***

Đêm đó, trong phòng ngủ tối đen như mực, tôi nằm cạnh Kumiko, nhìn chằm chằm lên trần nhà và tự hỏi mình thực sự biết được bao nhiêu về người phụ nữ này. Đồng hồ đổ chuông báo đã hai giờ sáng. Nàng có vẻ đang ngủ say. Trong bóng tối, tôi nghĩ về giấy ăn màu xanh và giấy vệ sinh in hoa và thịt bò và ớt chuông màu xanh. Tôi đã sống với nàng trong suốt sáu năm qua, mà không hề để ý nàng ghét những thứ này. Chúng thật là tầm thường. Ngu ngốc. Thật là nực cười, không đáng để cãi nhau. Chúng tôi cãi cọ tí chút và chắc sẽ mau chóng quên đi trong vài ngày tiếp theo.

Nhưng lần này thì khác. Nó khiến tôi bận tâm theo một cách hoàn toàn khác lạ, khiến tôi nhức nhối như thể cái xương cá nhỏ mắc trong cổ họng. Có thể – chỉ là có thể thôi nhé – nó có tính quyết định hơn là khi mới nhìn thoáng qua. Có lẽ là điều này: cú ra đòn chí tử. Hoặc có thể chỉ là khởi đầu của thứ là cú ra đòn chí tử. Tôi có lẽ đang đứng ở lối vào của một thứ gì đó to lớn, và trong đó là thế giới mà chỉ thuộc về riêng Kumiko, một thế giới rộng lớn mà tôi không bao giờ biết. Tôi nhìn thấy một căn phòng to lớn tối tăm. Tôi đứng đó cầm chiếc bật lửa, ngọn đèn nhỏ xíu của nó chỉ cho tôi thấy được phần nhỏ nhất của căn phòng.

Liệu tôi có bao giờ thấy được phần còn lại không? Hay là tôi sẽ già đi và chết mà không bao giờ hiểu thấu được nàng? Nếu đó là tất cả những gì nằm sẵn ngoài cửa hàng cho tôi, thì đâu là ý nghĩa của cuộc sống hôn nhân mà tôi đang duy trì? Đâu là ý nghĩa của cuộc đời tôi nếu tôi chỉ chia sẻ chiếc giường với một người bạn đồng hành mà tôi không hề hiểu rõ?

Đây là điều tôi nghĩ trong đêm đó và thỉnh thoảng tôi lại tiếp tục nghĩ tới sau này. Phải rất lâu sau đó tôi mới tìm được lối đi tới cốt lõi của vấn đề.

(Hết)

1 Comment (+add yours?)

  1. Thisisme
    Apr 26, 2011 @ 08:34:51

    Trăng tròn em là chó sói haha. Truyện rất hay, em thích đoạn đầu. Tks ss vì câu chuyện *hun chụt chụt*

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: